Hiện nay, ba phân chi được chấp nhận trong chi Curcuma L. là:
- Phân chi Hitcheniopsis bao gồm các loài không có tuyến trên bầu và cựa ở bao phấn.
- Phân chi Ecomatae được đặc trưng bởi lá bẹ phát triển rõ, có cựa bao phấn, và các lá bắc dính nhau ở phần gốc nhưng không hình thành các lá bắc dạng túi rõ rệt.
- Phân chi Curcuma L. bao gồm các loài có lá bắc dính nhau thành dạng túi phát triển rõ và hoa khép kín, dạng chuông, với sự hiện diện của các tuyến trên bầu.
Mới đây, các nhà nghiên cứu Saensouk, Nguyễn Hoàng Tuấn cùng các cộng sự đã phát hiện một loài Curcuma chưa được mô tả tại tỉnh Tây Ninh thông qua khảo sát thực địa có ứng dụng mô hình hóa ổ sinh thái MaxEnt (một thuật toán học cho dữ liệu phân bố loài) để định hướng và xác định các khu vực có khả năng xuất hiện các taxon (chú thích: taxon là đơn vị phân loại một nhóm các thực vật có quan hệ họ hàng được công nhận và đặt tên trong hệ thống phân loại sinh học) chưa được ghi nhận.
1. Các thông tin về loài mới phát hiện được trình dưới đây:
- Tên khoa học: Curcuma fibrifera Boonma, D.D. Nguyen, P. Saensouk & Saensouk, sp. Nov (Danh pháp loài “fibrifera” bắt nguồn từ tiếng Latinh fibra nghĩa là “sợi” và fero, ferre nghĩa là “mang, sinh ra, tạo ra”. Do đó, fibrifera có nghĩa là “mang sợi” hoặc “tạo ra sợi”, ám chỉ đặc điểm các sợi xơ xuất hiện khi bẻ gãy các nhánh thân rễ, tương tự như hiện tượng khi bẻ cuống lá của Nelumbo nucifera Gaertn.)
- Tên gọi địa phương: Nghệ Sợi Trắng.
- Chi tiết trích dẫn mẫu vật
Địa điểm lấy mẫu: Độ cao 65m tại huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh (nay được sáp nhập thành xã Tân Châu, tỉnh Tây Ninh), vào ngày 25/08/2025
Người thu mẫu: T.Boonma, S.Phimpha & D.D. Nguyen
Mã hiệu mẫu vật: TNH001
Nơi lưu giữa mẫu: Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
2. Một số điểm giống nhau và khác nhau giữa loài mới phát hiện (Curcuma fibrifera) và loài trước đây (Curcuma wanenlueanga) (Saensouk và cộng sự, 2021c, 2025b)
Giống nhau: Cả 2 loài đều có cụm hoa ở đỉnh, lá bắc dính nhau tạo thành hình túi, có tuyến trên bầu, bao phấn có cựa và bao hoa dạng ống,
Khác nhau:
Bảng 1. Bảng so sánh sự khác nhau giữa loài mới phát hiện (Curcuma fibrifera) và loài trước đây (Curcuma wanenlueanga)
|
Curcuma fibrifera
|
Curcuma wanenlueanga
|
|
- Thân rễ hình trứng đến gần hình cầu, kích thước 3–4 × 3–4 cm, màu ngà đến kem.
- Nhánh thân rễ bên trong màu ngà với lõi màu kem, khi bẻ gãy thấy các sợi xơ
|
- Thân rễ hình trứng, 5–9 × 3–5 cm, màu vàng.
- Nhánh thân rễ bên trong màu vàng với lõi đậm hơn, khi bẻ gãy không thấy sợi xơ.
|
|
- Chồi mang lá cao 60–85 cm
|
- Chồi mang lá cao 100–150 cm
|
|
- Bẹ lá dài 15–32 cm
|
- Bẹ lá dài 10–60 cm
|
|
- Cuống lá dài 5–13 cm, màu xanh
|
- Cuống lá dài 15–35 cm, màu xanh có ảnh đỏ
|
|
- Phiến lá hình mác đến hình elip, kích thước 28–45 × 8–14 cm, gốc hình nêm đến tròn, gân giữa màu xanh
|
- Phiến lá hình mác hẹp, kích thước 50–70 × 15–18 cm, gốc thuôn dài, gân giữa màu tím đỏ và nhạt dần theo tuổi.
|
|
- Cuống cụm hoa dài 20–24 cm
|
- Cuống cụm hoa dài 30–40 cm
|
|
- Nhị lép bên, hình trứng không đối xứng, đỉnh tù đến nhọn, 1,4–1,6 × 1,0 cm.
- Chỉ nhị dài 3,2–3,5 mm
|
- Nhị hình trứng ngược không đều, đỉnh tròn,
1,3–1,4 × 0,7–0,8 cm.
- Chỉ nhị dài 4 mm
|
|
- Cựa bao phấn hình nón hẹp, dài khoảng 1,5 mm, cong vào trong
|
- Cựa bao phấn hình nón hẹp, dài khoảng 4 mm, hướng xuống dưới.
|
|
- Bầu hình dẹt, 3–4 × 2 mm
|
- Bầu gần hình cầu, khoảng 3 × 3 mm
|
Mô tả
Cây thân thảo sống lâu năm, có thân rễ. Thân rễ hình trứng đến gần hình cầu, 3–4 × 3–4 cm, bên trong màu ngà đến kem, phân nhánh theo hai hướng đối diện, có mùi thơm nhẹ; các nhánh có phần bên trong màu ngà với lõi màu kem, dài 8–18 cm, đường kính 1,5–2,0 cm, khi bẻ gãy thấy các sợi xơ, được bao phủ bởi các vảy bẹ hình tam giác; các nhánh phụ phát sinh từ phần dưới của nhánh thân rễ, ban đầu hướng xuống, sau đó cong lên nằm song song với mặt đất, một số có đầu cong lên để phát triển thành chồi, tạo thành dạng mọc thành bụi tự nhiên. Rễ nhỏ, hình sợi.
Lá: Có 7 chồi lá cao 60–85 cm; 3–5 bẹ không mang phiến, màu xanh hoặc xanh có ánh đỏ ở phần đỉnh chuyển nâu khi già. Bẹ lá mọc so le, dài 15–32 cm, màu xanh hoặc có ánh đỏ, nhạt dần khi già, có lông mịn; lưỡi bẹ chia hai thùy, hình tam giác, dài 5–7 mm, màu xanh và chuyển nâu khi già, đỉnh tù, có lông mịn; cuống lá có rãnh, dài 5–13 cm, màu xanh, có lông ngắn mịn. Phiến lá hình mác đến hình elip, 28 – 45 × 8 –14 cm, mép nguyên, gốc hình nêm đến tròn, đỉnh nhọn, mặt trên màu xanh, mặt dưới xanh nhạt hơn, có lông mịn có hệ gân nổi rõ và thưa lông mịn ở mặt dưới.
Cụm hoa mọc giữa bẹ lá; dạng chùm xim mang 4–5 hoa , cuống cụm hoa màu xanh nhạt đến trắng ở phần gốc, dài 20–24 cm, có lông mịn, có hoặc không có lá bắc bất thụ (không chứa hoa); lá bắc bất thụ hình thìa ngược, màu xanh có ánh nâu đỏ, kích thước 10–12 × 3–4 cm; xim dạng thyrse 11,0–14,0 × 6,0–6,5 cm; lá bắc hữu thụ hình elip rộng đến hình trứng ngược, 3,5–4,0 × 2,5–3,0 cm; lá bắc phía dưới có đỉnh tù rộng, các lá bắc phía trên có đỉnh tù, màu xanh nhạt với vùng giữa ánh đỏ rượu nhạt, dần dần chuyển sang đỏ rượu rõ hơn về phía đầu, có lông mịn; lá bắc (coma bracts) hình thìa ngược đến hình elip, kích thước 3,5–4,0 × 1,0–2,0 cm, đỉnh tù, màu trắng với phần đầu ánh đỏ rượu; lá bắc con (bracteoles) hình trứng, đỉnh tù, hơi dạng chụp, dài 0,8–1,0 cm, màu trắng trong mờ, có lông.
Hoa dạng gullet (tạm dịch: dạng ống hay họng), dài 4,6–4,8 cm; cánh đài dài 13–15 mm, màu trắng bán trong suốt, có ánh hồng nhạt, đỉnh chia ba thùy, có một khe một bên dài khoảng 5 mm, có lông thưa ở phần đỉnh và gốc; ống hoa hẹp, hình trụ ở phần gốc, loe hình phễu ở 1/3 phần trên, bên ngoài màu vàng nhạt, gần như nhẵn, bên trong có lông; cánh tràng lưng hình trứng–tam giác, dạng chóp, đỉnh có mũi nhọn nhỏ, kích thước 1,6–1,7 × 0,9–1,0 cm, mũi nhọn dài khoảng 1,5 mm, màu trắng với ánh hồng nhạt ở phần đầu, nhẵn trừ phần chóp có lông; các cánh tràng bên hình trứng–tam giác, đỉnh tù, hơi lõm nông, kích thước 1,5–1,6 × 0,9–1,0 cm, màu trắng với ánh hồng nhạt ở phần đầu, nhẵn.
Nhị lép bên hình trứng không đối xứng, đỉnh tù đến nhọn, kích thước 1,4–1,6 × 1,0 cm, nổi gờ dọc theo thùy giữa, hướng vào phía trong hoa, màu vàng nhạt; cánh môi hình trứng ngược rộng, kích thước 1,6–1,7 × 1,3–1,4 cm, đỉnh khuyết với thùy giữa chia hai, vết khuyết sâu đến 4 mm, các thùy bên gập hướng lên trên, màu vàng nhạt với dải giữa màu vàng đậm hơn.
Nhị hữu thụ một (chú thích: Có một nhị sinh sản duy nhất), dài 8–9 mm; chỉ nhị dài 3,2–3,5 mm, rộng khoảng 5 mm ở gốc, màu vàng nhạt, có lông mịn; bao phấn có cựa, kích thước khoảng 7 × 3 mm, mô liên kết màu vàng nhạt, có lông mịn; mào bao phấn hiện diện nhưng không phát triển rõ, đỉnh tròn; cựa hình nón hẹp, dài khoảng 1,5 mm, hướng xuống dưới và cong vào trong, màu vàng nhạt; các túi phấn dài khoảng 4 mm, nứt dọc toàn bộ chiều dài; phấn hoa màu trắng kem.
Tuyến trên bầu 2 cái, hình trụ, dài khoảng 5 mm, màu vàng. Đầu nhụy lộ ra phía trên bao phấn, kích thước khoảng 1,2 × 1,4 mm, màu trắng. Bầu hình dẹt, kích thước khoảng 3–4 × 2 mm, màu vàng nhạt, có lông. Quả chưa quan sát được.
Phân bố và sinh cảnh: Curcuma fibrifera hiện chỉ được biết đến tại địa điểm chuẩn ở huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, miền Nam Việt Nam. Loài này sinh trưởng trên đất thịt pha cát, dưới tán rừng rụng lá bán thưa, ở độ cao khoảng 65m so với mực nước biển.
Hiện tượng học: Ghi nhận ra hoa vào tháng 8.

Hình 1. Curcuma fibrifera Boonma, D.D. Nguyen, P. Saensouk & Saensouk. A. Mặt cắt thân rễ phân nhánh, các sợi xơ lộ rõ khi bẻ gãy các nhánh thânh rễ. B. Dạng sống. C. Cụm hoa nhìn từ trên. D. Cụm hoa nhìn từ bên. E. Thùy tràng lưng. F. Các thùy tràng bên. G. Chùm xim mang hoa và nụ. H. Hoa nhìn từ bên. I. Các nhị lép bên. J. Cánh môi. K. Nhị nhìn từ bên, kèm ống hoa. L. Nhị nhìn từ phía trươc, ống hóa được cắt để quan sát các tuyến trên bầu. M. Hoa nhìn từ phía trước. Ảnh chụp bởi Thawatphong Boonma

Hình 2. Curcuma fibrifera Boonma, D.D. Nguyen, P. Saensouk & Saensouk. A. Hoa nhìn từ phía trước. B. Nhị nhìn từ bên, kèm ống hoa. C. Nhị nhìn từ phía trước; ống hoa được mổ để bộc lộ các tuyến thượng nhụy. D. Thùy tràng lưng. E. Các thùy tràng bên. F. Các nhị lép bên. G. Cánh môi (labellum). H. Đài hoa đã được mổ. I. Hoa nhìn từ bên. J. Lá bắc hữu thụ. K. Dạng sống (dáng cây). L. Chùm xim mang hoa và các nụ non. Ảnh vẽ minh họa bởi Thawatphong Boonma
Curcuma fibrifera được ghi nhận và mô tả tại Việt Nam như một đại diện của phân chi Curcuma L. Loài này có sự tương đồng khá cao với Curcuma wanenlueanga (Saensouk và cs., 2021c, 2025b), tuy nhiên vẫn có thể phân biệt rõ ràng thông qua các đặc điểm hình thái của thân rễ, nổi bật là sự xuất hiện của các sợi xơ dễ quan sát khi thân rễ bị bẻ gãy, cùng với những khác biệt nhất định về đặc điểm sinh dưỡng và cấu trúc hoa. Kết quả mô hình hóa phân bố cho thấy các sinh cảnh thích hợp của phân chi Curcuma L. vẫn còn hiện diện tại Việt Nam, qua đó cho thấy khả năng tồn tại của những đơn vị phân loại chưa được ghi nhận. Việc ghi nhận Curcuma fibrifera không chỉ làm phong phú thêm hiểu biết về loài thuộc họ Zingiberaceae ở Việt Nam mà còn nêu lên sự cần thiết của các hoạt động khảo sát thực địa liên tục và công tác bảo tồn các sinh cảnh tiềm năng nơi các loài thuộc họ Zingiberaceae có thể tồn tại.
Tài liệu tham khảo
[1]. SAENSOUK, P., SAENSOUK, S., TUAN, N. H., Van SY, V., TAESUK, N., NGUYEN, D. D., ... & BOONMA, T. (2026). A new species and three new records of Curcuma subgenus Curcuma (Zingiberaceae) for Vietnam with notes on their traditional utilization and conservation status. Taiwania, 71(1), 83-100.
[2]. Biên tập Lý Ngọc Sâm (2015), Phát hiện hai loài Nghệ mới ở Việt Nam, Flora of Vietnam, https://www.botanyvn.com/cnt.asp?param=news&newsid=1587, truy cập vào ngày 20/1/2026.
Biên tập: DS. Nguyễn Duy Tài