Khám phá 5 loại thảo dược hỗ trợ lợi tiểu hiệu quả từ thiên nhiên

Thuốc lợi tiểu được định nghĩa là những tác nhân làm tăng lượng nước tiểu bài tiết qua thận. Các thuốc này chủ yếu làm tăng sự thải trừ natri cùng với chloride hoặc bicarbonate qua thận, từ đó kéo theo sự bài tiết nước thứ phát [1]. Thuốc lợi tiểu đóng vai trò quan trọng trong điều trị phù nề và tăng huyết áp thông qua việc làm tăng cân bằng âm của nước và chất tan trong cơ thể.

Trong nephron, ống lượn gần tái hấp thu khoảng 50–66% lượng dịch thông qua cả cơ chế chủ động và thụ động. Nhánh xuống của quai Henle có tính thấm cao với nước nhưng không thấm với chất tan, do đó cho phép nước được tái hấp thu theo cơ chế thẩm thấu. Việc giảm hấp thu nước tại nhánh xuống quai Henle đóng vai trò quan trọng trong việc làm tăng tình trạng bài niệu tổng thể. Trong khi đó, nhánh lên của quai Henle không thấm nước nhưng lại có tính thấm cao với natri và chloride, vì vậy nhiều thuốc lợi tiểu tác động lên quá trình vận chuyển ion tại đây nhằm làm tăng thải trừ nước tiểu [2].

Trong y học hiện đại, thuốc lợi tiểu thường được sử dụng như liệu pháp đầu tay trong điều trị tăng huyết áp và một số bệnh lý liên quan đến giữ nước. Tuy nhiên, việc sử dụng kéo dài các thuốc này có thể gây mất cân bằng điện giải và nhiều tác dụng không mong muốn khác. Chính vì vậy, trong những năm gần đây, các dược liệu có tác dụng lợi tiểu ngày càng nhận được sự quan tâm nhờ tính an toàn, hiệu quả và chi phí thấp hơn. Các chế phẩm đơn dược và đa dược từ thảo dược đã được sử dụng từ lâu dưới dạng thuốc sắc, cồn thuốc, viên nén và viên nang. Theo một số ước tính, hiện có hơn 650 chế phẩm đơn dược và đa dược được bào chế từ hơn 75 loài thực vật đang được sử dụng trên lâm sàng [3]. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh tác dụng lợi tiểu của các bài thuốc thảo dược truyền thống. VẬY NHỮNG THẢO DƯỢC NÀO ĐÃ ĐƯỢC CHỨNG MINH CÓ TÁC DỤNG LỢI TIỂU? HÃY CÙNG ĐIỂM QUA MỘT SỐ THẢO DƯỢC TIÊU BIỂU ĐÃ ĐƯỢC NGHIÊN CỨU.

  1. Mangifera indica – Xoài

Mangifera indica là một loài xoài thuộc họ Anacardiaceae. Cây mọc hoang ở Ấn Độ và các giống được trồng đã được đưa đến nhiều khu vực nhiệt đới khác trên thế giới. Đây là một trong những cây ăn quả lớn nhất, có thể đạt chiều cao khoảng 30 m với chu vi trung bình từ 3 – 4 m, đôi khi lên tới 6 m.

Hoạt tính lợi tiểu của cao chiết vỏ thân Mangifera indica trên chuột đã được nghiên cứu bởi Shree Devi. Các tác giả sử dụng cao chiết ethyl acetat, ethanol và nước để đánh giá hoạt tính lợi tiểu. Tác dụng lợi tiểu được khảo sát trên chuột có khối lượng 175–200 g bằng cách đo thể tích nước tiểu tại các thời điểm 1, 2, 4, 6 giờ và sau 24 giờ. Nhóm đối chứng dương được sử dụng furosemide (20 mg/kg, tiêm phúc mạc) và mannitol (100 mg/kg, tiêm tĩnh mạch). Các cao chiết được dùng đường uống với liều 250 mg/kg thể trọng. Kết quả cho thấy tỷ lệ Na+/K+ cao nhất ở cao chiết nước, tiếp theo là cao ethanol và ethyl acetat. Cao chiết nước thể hiện tác dụng lợi tiểu tốt nhất khi so sánh với các cao chiết còn lại [5].

                                              

Hình 1. Ảnh chụp cây Mangifera indica.

  1. Mimosa pudica – Cây xấu hổ

Mimosa pudica, còn được gọi là cây mắc cỡ hay cây ngủ, là một loài thân thảo bò lan sống hàng năm hoặc lâu năm, thường được trồng do đặc tính đặc biệt của nó: lá kép sẽ cụp lại và rũ xuống khi bị chạm hoặc rung động nhằm tự bảo vệ khỏi động vật ăn cỏ, sau đó mở ra trở lại sau vài phút. Loài này có nguồn gốc từ Nam Mỹ và Trung Mỹ, thường mọc ở nơi râm mát dưới các cây hoặc bụi lớn.

Tác dụng lợi tiểu của cao chiết nước từ lá Mimosa pudica Linn. được đánh giá bằng thử nghiệm Lipschitz trên chuột. Nhóm đối chứng được cho dùng NaCl 0,9%, ba nhóm thử nghiệm được điều trị bằng cao chiết nước của lá Mimosa pudica với liều lần lượt là 100, 200 và 400 mg/kg, trong khi nhóm chuẩn sử dụng furosemide. Phân tích sinh hóa nước tiểu được thực hiện bằng phương pháp đo màu. Cao chiết nước của lá Mimosa pudica ở liều 100 mg/kg đường uống cho thấy hoạt tính lợi tiểu đáng kể với sự gia tăng bài tiết điện giải (P<0,01 đối với thể tích nước tiểu, P<0,01 đối với Cl-, P<0,05 đối với K+ và P<0,01 đối với Na+). Tuy nhiên, việc tăng liều thuốc thử không làm tăng thêm tác dụng lợi tiểu [6].

Hình 2. Ảnh chụp cây Mimosa pudica.

  1. Lepidium sativum – Cải xoong vườn

Lepidium sativum, còn được gọi là Cải xoong vườn, thuộc họ Brassicaceae. Hạt và lá của cây chứa tinh dầu dễ bay hơi. Hạt có vị đắng, tính sinh nhiệt, thanh lọc cơ thể, gây đỏ da, lợi sữa, bổ dưỡng, kích thích tình dục, tốt cho mắt, chống scorbut, kháng histamin và lợi tiểu. Chúng được sử dụng trong điều trị hen suyễn, ho có đờm, bong gân, bệnh phong, bệnh ngoài da, kiết lỵ, tiêu chảy, lách to, khó tiêu, đau thắt lưng, khí hư, scorbut và suy nhược sinh dục. Hạt của cây đã được chứng minh giúp làm giảm triệu chứng hen suyễn và cải thiện chức năng phổi ở bệnh nhân hen. Thành phần hóa học chính của Lepidium sativum gồm flavonoide, coumarine, glycoside, glucosinolate, glucotropaeoline, triterpene, sterole và alkaloide.

Thể tích nước tiểu tăng đáng kể khi sử dụng cao chiết nước và methanol của Lepidium sativum. Hai loại cao chiết này làm tăng bài tiết natri, trong khi sự bài tiết kali chỉ tăng ở cao chiết nước. Tác dụng lợi tiểu của các cao chiết tương đương với hydrochlorothiazide – thuốc đối chứng được sử dụng trong nghiên cứu, đồng thời cao methanol còn có thêm lợi ích giữ kali [7].

Hình 3. Ảnh chụp cây Lepidium sativum.

  1. Achyranthes aspera – Cỏ xước

Achyranthes aspera Linn. thuộc họ Amaranthaceae, thường được gọi là Cỏ xước trong y học và thường mọc như một loại cỏ dại. Theo truyền thống, cây được sử dụng trong điều trị nhiều bệnh lý khác nhau. Loài cây này được sử dụng như thuốc lợi tiểu, diệt tinh trùng, chống dị ứng, hỗ trợ tim mạch, bảo vệ thận, chống ký sinh trùng, hạ đường huyết, giảm đau và hạ sốt.

Trong nghiên cứu hiện tại, cao methanol từ toàn cây Achyranthes aspera đã được khảo sát về tiềm năng lợi tiểu. Tác dụng lợi tiểu được đánh giá theo phương pháp của Lipschitz và sử dụng furosemide làm thuốc đối chứg dương. Chuột được điều trị bằng cao chiết methanol cho thấy tác dụng lợi tiểu cao hơn nhóm đối chứng âm nhưng thấp hơn furosemide. Đồng thời, sự gia tăng đáng kể độ thanh thải natri, kali và chloride qua thận đã được ghi nhận ở nhóm dùng cao chiết và nhóm dùng thuốc đối chứng dương [8].

Hình 4. Ảnh chụp cây Achyranthes aspera.

  1. Taraxacum officinale – Bồ công anh

Taraxacum officinale, hay bồ công anh, là một loài thực vật thân thảo lâu năm thuộc họ Asteraceae. Bồ công anh thường được sử dụng như thực phẩm. Lá cây được dùng trong món salad và trà, trong khi rễ đôi khi được sử dụng như chất thay thế cà phê. Lá và rễ bồ công anh đã được sử dụng trong hàng trăm năm để điều trị các vấn đề liên quan đến gan, túi mật, thận và khớp.

Theo truyền thống, bồ công anh được xem như một phương pháp hỗ trợ điều trị các bệnh như eczema và ung thư. Trong các nghiên cứu thực nghiệm trên chuột, lượng lớn cao chiết nước từ lá bồ công anh (2 g/kg thể trọng) cho thấy hoạt tính lợi tiểu tương đương với furosemide. Do bồ công anh cũng là nguồn giàu kali, một số nhà nghiên cứu cho rằng cây có khả năng bù lại lượng kali bị mất trong quá trình bài niệu [9].

Hình 5. Ảnh chụp cây Taraxacum officinale.

Qua tổng quan các dược liệu có tác dụng lợi tiểu, có thể thấy nhiều loài cây thuốc đã được sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyền nhờ khả năng hỗ trợ tăng bài tiết nước tiểu, thanh nhiệt và cải thiện chức năng đường tiết niệu. Bên cạnh kinh nghiệm dân gian, nhiều nghiên cứu hiện đại cũng đã chứng minh các hoạt tính sinh học liên quan như chống oxy hóa, kháng viêm và bảo vệ thận của các dược liệu này. Việc khai thác và sử dụng hợp lý nguồn dược liệu thiên nhiên không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe mà còn mở ra tiềm năng phát triển các sản phẩm hỗ trợ điều trị có nguồn gốc từ thảo dược trong tương lai.

* Tài Liệu Tham Khảo:

[1] Barrar FSK. Text book of pharmacology. New Delhi: S. Chand; 2003, p298.

[2] Kokko PJ. Site and mechanism of action of diuretics. American Journal of Medicine 1984;77:11-17.

[3] Chopra RN, Nayar SL, Chopra LC. Glossary of Indian Medicinal Plants (Including the supplement). New Delhi, India: Council of Scientific and Industrial Research; 1986, p845.

[4] Wright CJ et al. Herbal medicines as diuretics, a review of the scientific evidence. Journal of Ethnopharmacology 2007;114(1):1-31.

[5] Shree Devi MS. Acute toxicity and diuretic activity of Mangifera indica Linn bark extracts. International Journal of Pharma and Bio Sciences 2011;2(3):141-146.

[6] Sangmai TK et al. Diuretic property of aqueous extract of leaves of Mimosa pudica Linn on experimental albino rats. Journal of Natural Product 2010;3:173-178.

[7] Patel U et al. Evaluation of diuretic activity of aqueous and methanol extracts of Lepidium sativum Garden Cress (Cruciferae) in Rats. Tropical Journal of Pharmaceutical Research 2009;8:215-219.

[8]. Srivastav S et al. Diuretic activity of whole plant extract of Achyranthes aspera Linn. European Journal of Experimental Biology 2011; 1(2):97-102

[9]. Racz-KE et al. The action of Taraxacum officinale extracts on the body weight and diuresis of laboratory animals. Planta Medica 1974; 26:212-217.